Trái phiếu cơ bản. (P2) Phương pháp định giá

Bài toán đặt ra với trái phiếu là, khi phát hành, trái phiếu đã có đầy đủ thông tin nội tại. Việc còn lại chỉ là xem giá trị nội tại của trái phiếu nằm ở đâu, lãi suất thị trường ra sao và có bị đánh giá thấp hay cao gì không. Bài này sẽ đưa ra phương pháp luận để tính giá trị trái phiếu

Trái phiếu cơ bản. (P2) Phương pháp định giá

Phân loại trái phiếu

Có rất nhiều cách phân loại trái phiếu. Nhưng thực tế ở Việt Nam thì hiện có 2-3 loại nên mình cố gắng rút gọn. Những trái phiếu chưa có hoặc chưa phổ biến thì tạm bỏ qua. Đọc chỉ thêm nhức đầu. Tóm gọn lại ta sẽ tìm hiểu

Trái phiếu không chuyển đổi

  • Trái phiếu trả lãi cố định

Đây là mô hình đơn giản nhất, trái phiếu đã quy định rõ mọi chỉ số, chỉ cần thêm giá trị lãi suất hiện tại là có thể tính được giá trị trái phiếu. Hiện nay, chỉ có một số công ty (như bất động sản) thường phát hành trái phiếu dạng này. Chúng ta sẽ làm ví dụ này đầu tiên.

  • Trái phiếu trả lãi thả nổi

Theo quan sát (hạn hẹp) của mình trái phiếu có lãi suất thả nổi là sản phẩm chủ yếu ở thị trường Việt Nam. Do hạn chế được rủi ro với lãi suất tiết kiệm nên tiện cho cả người bán lẫn người mua. Chúng ta sẽ làm ví dụ với trái phiếu này.

Trái phiếu có thể chuyển đổi

Đây là dạng trái phiếu phức tạp hơn đòi hỏi phân tích chuyên nghiệp. Nhà đầu tư nhỏ lẻ (như mình) chỉ đọc cho biết thì tốt hơn. Hiện ở Việt Nam mình hiếm khi thấy loại trái phiếu này.

  • Trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu

Ahh, các diễn đàn đang (Apr2021) bàn tán về trái phiếu này của Vingroup. Đây là trái phiếu phát hành ở nước ngoài (Singapore) bằng tiền USD cho nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư mua trái phiếu sẽ nhận được Coupon 2%/năm và khi đáo hạn sẽ được quyền chọn hoặc nhận tiền hoặc nhận cổ phiếu của Vin. Mình không đọc báo cáo bạch của trái phiếu nên cũng chỉ nghe báo chí nói vậy

  • Trái phiếu kèm quyền bán, quyền mua

Trái phiếu kèm quyền bán (Call options) là công ty phát hành trái phiếu có quyền mua lại trái phiếu trước thời hạn khi giá trái phiếu tăng vượt một giá trị định sẵn

Trái phiếu kèm quyền mua (Put options) cho người mua trái phiếu quyền bán lại trái phiếu cho nhà phát hành nếu giá trái phiếu giảm đến một giá trị định sẵn.

Trái phiếu kèm quyền mua, bán có vẻ chưa phổ biến ở Việt nam, phương pháp định giá cũng phức tạp hơn nên chúng ta chỉ đọc cho biết vậy.

Định giá trái phiếu: Chiết khấu giá về hiện tại và Tỷ suất sinh lời

Nói đến sản phẩm tài chính, dòng tiền là nói đến Giá trị hiện tại ròng (NVP - Net present Value) và Tỷ suất sinh lời (IRR - internal rate of return). 2 giá trị này để xác định lợi nhuận của sản phẩm cũng như so sánh giữa các sản phẩm khác nhau để tìm ra cái nào có lợi nhuận cao hơn, đáng đầu tư hơn

Giá trị hiện tại ròng chuyển đổi tiền thu được từ tương lai về hiện tại. Để xác định xem, số tiền nhận được đó, nếu tính giá trị bây giờ là bao nhiêu.

Công thức tính NPV:

Công thức chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại. Nguồn: Vietnambiz

Trong đó, CF1, CF2, CFn là các dòng tiền tại thời gian 1, 2, 3. r là lãi suất chiết khấu.

Chúng ta tính NPV khi biết rõ dòng tiền CF1, CF2 ... của sản phẩm tài chính và lãi suất chiết khấu r từ thị trường. Trên lý thuyết, người ta thường lấy r là lãi suất phi rủi ro, thường là lãi suất trái phiếu chính phủ kì hạn 3, 5 hay 10 năm.

Với nhà đầu tư cá nhân, ta đơn giản là dùng lãi suất ngân hàng kì hạn 1 năm làm giá trị tham chiếu.

Công thứ tính Tỷ suất sinh lời IRR

Công thức tính IRR

Tương tự như trên, CF0, CF1, ... , CFn là dòng tiền tại thời điểm T0, T1, ...

Lưu ý một chút là CF0 là dòng tiền ra (tiền đi mua) còn CF1, CF2, ... là dòng tiền vào (Tiền nhận về) nên CF0 có giá trị âm.

Để tìm được IRR, việc tính nhẩm có vẻ hơi khó. Thường phải sử dụng bảng tính excel hoặc máy tính của kế toán.

IRR được sử dụng để so sánh các sản phẩm tài chính với nhau, sản phẩm nào IRR cao thì chọn. Nhà đầu tư cá nhân có thể so IRR với lãi suất ngân hàng kì hạn 1 năm. Cao hơn lãi suất ngân hàng thì có thể xem các số liệu khác. Thấp hơn lãi suất ngân hàng thì bỏ qua luôn.

Trên thực tế, IRR được sử dụng nhiều hơn NPV trong trái phiếu. Vì khi bạn chọn mua trái phiếu, giá đã được niêm yết sẵn, không phải tính ngược về nữa. Bạn chỉ còn tính mỗi IRR thôi. Trong trái phiếu IRR thường gọi là yield, lợi tức.

Một lưu ý quan trọng nữa, trên thị trường cổ phiếu để nói về sự tăng giảm, người ta dùng Giá để so sánh. Ví dụ, giá cổ phiếu ABC đang tăng/giảm. Thị trường trái phiếu dùng Yield (lợi tức) để so sánh. Yield tỷ lệ nghịch với giá. Khi bạn nghe nói yield của trái phiếu ABC đang tăng nghĩa là giá trái phiếu đó đang giảm.

Tạm kết

Có 2 bài "rào trước đón sau" để bắt đầu định giá trái phiếu có thể khiến bạn sốt ruột chút nhưng cũng cần thiết cho người mới. Đến đây các bạn có thể thấy kiến thức cơ bản về "Kinh Tế Lượng" quan trọng và áp dụng thực tế vài trái phiếu ra sao. Phần tiếp theo, không để bạn chờ lâu hơn nữa, chúng ta sẽ định giá 2 sản phẩm trái phiếu đang phát hành ở Việt Nam. Dựa vào 2 trái phiếu này, bạn có thể định giá đến 90% sản phẩm khác cùng loại. Bắt đầu thôi nào.

Cảm ơn đã đọc đến đây. Nếu bạn muốn nhận được lời nhắc khi có bài viết mới. Hãy đăng kí lại email ngay bên dưới và like Facebook page của chúng tôi. Chúng tôi rất vui được gặp lại bạn trong các bài viết tới! <3

Share Tweet Send
0 Bình luận
Đang nạp...
You've successfully subscribed to Finaz.vn
Great! Next, complete checkout for full access to Finaz.vn
Welcome back! You've successfully signed in
Success! Your account is fully activated, you now have access to all content.