Lịch sử tài chính: Khủng hoảng cho vay & tiết kiệm

Các định chế tài chính như Ngân Hàng, công ty tài chính, quỹ tiết kiệm thường được cho là "quá lớn để sụp đổ". Tuy nhiên lịch sử đã chỉ ra, chúng vẫn sụp đổ bình thường và thậm chí còn sụp đổ rất nhiều ...

Lịch sử tài chính: Khủng hoảng cho vay & tiết kiệm

Lời mở đầu

4 từ nguy hiểm nhất trong đầu tư là " Lần này sẽ khác" - Sir John Templeton. Chúng ta không rút được nhiều bài học từ các cuộc khủng hoảng đã từng xảy ra trong quá khứ vì 2 điều:

  • Thứ nhất, chúng ta không biết gì về những cuộc khủng hoảng đã từng xảy ra
  • Thứ 2, chúng ta không rút ra được điều gì từ bài học đó.

Bài viết này (và hi vọng chuỗi bài tiếp theo về lịch sử tài chính) nhằm vào lý do thứ nhất: hiểu về các cuộc khủng hoảng đã từng xảy ra. Nguyên nhân, hệ quả và bài học có thể rút ra từ đó. Phần còn lại sẽ thuộc về độc giả.

Hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về cuộc khủng hoảng của các quỹ cho vay và tiết kiệm xảy ra ở Mỹ vào thập kỉ 80

Nguồn gốc khủng hoảng

Các quỹ cho vay và tiết kiệm (S&Ls) đã có mặt ở Mỹ từ những năm 1831. Khởi nguồn tại bang Pennsylvania, khi những người dân mong muốn mua nhà nhưng không có đủ tiền mặt. Họ đã họp nhau lại thành các hiệp hội, góp tiền hàng tháng thành một quỹ để cho các thành viên vay mua nhà đất. Khi các khoản vay được trả, quỹ có thể cho các thành viên khác vay. Tại thời điểm đó, các ngân hàng chưa có chức năng cho vay trả góp

Các quỹ cho vay và tiết kiệm, thường gọi là quỹ tiết kiệm (tương tự hình thức quỹ tiết kiệm ở Việt Nam), nhỏ hơn ngân hàng cả về mặt số lượng và tài sản. Tuy nhiên quỹ tiết kiệm có vai trò quan trọng trong thị trường cho vay trả góp tại Mỹ. Vào những năm 1980, có khoảng 4,000 quỹ tiết kiệm có tổng tài sản 600 tỷ USD với 480 tỷ nằm trong thị trường cho vay thế chấp, chiếm một nửa trong khối thị trường cho vay thế chấp trị giá 960 tỷ USD tại thời điểm đó.

Vấn đề phát sinh

Trong những năm 1980, ngành tài chính phải trải qua một thời kỳ khó khăn chủ yếu tập trung vào ngành tiết kiệm và cho vay (S&L). Cả lạm phát và lãi suất đều tăng đáng kể vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. Điều này tạo ra hai vấn đề cho quỹ tiết kiệm.

  • Thứ nhất, lạm phát tăng khiến lãi suất tiền gửi tăng mạnh khiến mức lãi suất tiền gửi bên ngoài cao hơn mức lãi suất mà chính phủ quy định cho các quỹ tiết kiệm. Các khách hàng gửi tiền tại quỹ tiết kiệm rất nhanh chóng rút tiền khỏi quỹ và gửi ở nơi lãi suất cao hơn.
  • Thứ 2, các quỹ cho khách hàng vay với lãi suất cố định trong một khoảng thời gian dài. Khi lạm phát tăng mạnh, giá trị các khoản vay giảm đáng kể.

Về cơ bản có nghĩa là, các quỹ tiết kiệm đang "mua đắt bán rẻ", họ phải trả lãi cho khách hàng với giá cao trong khi nhận tiền lời từ các khoản vay với giá thấp hơn. Toàn bộ ngành kinh doanh quỹ tiết kiệm có nguy cơ bị phá sản

Các nhà hoạch định chính sách đã phản ứng bằng cách thông qua Đạo luật bãi bỏ quy định và kiểm soát tiền tệ của các tổ chức tài chính vào năm 1980. Nhưng các nhà quản lý liên bang thiếu đủ nguồn lực để bù đắp những tổn thất mà các S & L đang phải gánh chịu. Vì vậy, thay vào đó, họ đã thực hiện việc bãi bỏ quy định ràng buộc của ngành này với hy vọng rằng nó có thể phát triển và thoát khỏi thua lỗ. Tuy nhiên, các vấn đề thậm chí còn trở nên nghiêm trọng hơn. Cuối cùng, một gói cứu trợ đã được tung ra, và Quốc hội buộc phải hành động với luật cải cách đáng kể vào cuối thập kỉ 80.

Hậu quả

Tổng thiệt hại từ cuộc khủng hoảng được dự tính khoảng 160 tỷ USD, trong đó 124 tỷ USD được trả trực tiếp từ chính phủ Mỹ.

Từ năm 1986 đến 1995 số lượng các quỹ tiết kiệm đã giảm từ 3234 xuống còn 1645. Thị phần cho vay mua nhà trả góp của các quỹ này giảm từ 53% năm 1975 xuống còn 30% năm 1990.

Cuộc khủng hoảng cũng làm thị trường tài chính và bất động sản Mỹ phát triển chậm lại, góp phần gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế 1990- 1991. Giữa năm 1986 - 1990, số nhà xây dựng mới giảm từ 1,8 triệu xuống còn 1 triệu, thấp nhất kể từ chiến tranh thế giới 2

Một vài nhà bình luận cho rằng, việc giải cứu các quỹ tín dụng là một tiền lệ xấu, khuyến khích các quỹ tín dụng và nhà băng hành động rủi ro hơn gây ra những cuộc khủng hoảng mới như cuộc khủng hoảng nhà đất năm 2007

Tổng kết

Cho vay với lãi suất cố định thấp có thể gặp rủi ro lớn khi lạm phát và theo đó là lãi suất huy động tăng cao. Giai đoạn 1980s, chính phủ và FED ít can thiệp vào thị trường tài chính bằng cách in tiền ồ ạt như hiện nay và hi vọng thị trường sẽ tự điều chỉnh. Thị trường đã không điều chỉnh hiệu quả như kì vọng. Lý thuyết về thị trường hiệu quả chưa chắc đã hoạt động đúng.

Sai lầm tiếp theo là "cởi bỏ" các quy định để các quỹ tiết kiệm đầu tư vào các dự án rủi ro hơn, như vào các trái phiếu rác, hay vào các khu vực bất động sản phát triển nóng. Khi các dự án rủi ro này phá sản, các quỹ cũng chết theo và chính phủ phải giải cứu.

Tham khảo:

  • https://www.federalreservehistory.org/essays/savings-and-loan-crisis
  • https://en.wikipedia.org/wiki/Savings_and_loan_crisis

Share Tweet Send
0 Bình luận
Đang nạp...
You've successfully subscribed to Finaz.vn
Great! Next, complete checkout for full access to Finaz.vn
Welcome back! You've successfully signed in
Success! Your account is fully activated, you now have access to all content.