Khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Tăng trưởng không thể tài trợ mãi bằng nợ vay, đặc biệt là nợ vay và vốn đầu tư từ nước ngoài. Đó có lẽ là bài học đầu tiên sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 ...

Khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Đầu những năm 1990, kinh tế Thái Lan, Indonexia, Malayxia có dấu hiệu phát triển quá nóng, được thúc đẩy bởi dòng vốn vay từ nước ngoài. Tiền đầu tư "nóng" tập trung vào thị trường tài chính, chứng khoán khiến giá tài sản tăng mạnh và càng thúc đẩy các công ty vay nhiều hơn. Việc vay vốn nhiều khiến các nước thâm hụt tài khoản vãng lai, cùng với chính sách khuyến khích vay ngoại tệ và neo giữ tỷ giá cố định dẫn đến rủi ro ngoại hối của chính phủ.

Cũng trong giai đoạn này, nền kinh tế Mỹ hồi phục, lãi suất đồng USD tăng khiến việc quay lại đầu tư tài chính tại Mỹ có tiềm năng mang lại lợi nhuận cao hơn. Cùng lúc đó, Trung Quốc nổi lên như một cường quốc xuất khẩu hàng hoá, cạnh tranh với các nước Đông Nam Á vốn có truyền thống xuất khẩu như Thái Lan, Malaysia ... Dòng vốn do đó rời các nước Đông Nam Á quay lại Mỹ và Trung Quốc. Dự trữ ngoại tệ của các nước này liên tục giảm sút, cùng với chính sách neo giữ tỷ giá khiến áp lực lên ngân hàng nhà nước càng lớn

Xem thêm:

Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Ngày 02/07/1997, Thái Lan buộc phải thả nổi tỷ giá USD: Bat khiến giá Baht liên tục sụt giảm. Tỷ giá BAHT:USD từ 24.5 (07/1997) đã tăng lên 41 (07/1998), đồng baht đã mất 40% giá trong 1 năm.

Việc mất giá đồng nội tệ đã khiến dòng vốn ngoại tháo chạy thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Các công ty vay bằng đồng USD nhanh chóng phá sản vì nợ vay đã tăng chóng mặt. Công ty tài chính lớn nhất Thái Lan, Finance One đã phá sản. Thị trường chứng khoán giảm 72% giá trị. Hàng loạt công ty ngành tài chính, bất động sản, xây dựng dừng hoạt động và sa thải công nhân. Hơn 600,000 nhân viên người nước ngoài làm việc cho các công ty Thái Lan cũng mất việc, phải về nước.

IMF nhanh chóng thông qua gói cứu trợ trị giá 17 tỷ USD với nhiều yêu cầu với chính phủ Thái về cho phép phá sản, tái cấu trúc, tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với các ngân hàng và công ty tài chính của Thái.

Phải đến năm 2001, Thái Lan mới hoàn toàn hồi phục sau khủng hoảng. Chính phủ tăng thuế để trả nợ IMF xong năm 2003, tỷ giá Baht:USD trở lại 29 vào tháng 10/2010

Khủng hoảng cũng gây ảnh hưởng lớn đến các quốc gia Đông Nam Á khác như Indonesia, Hàn Quốc. Nhưng ảnh hưởng ít hơn đến Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản ...Việt Nam bị ảnh hưởng ít hơn do chưa thâm nhập sâu rộng với các dòng vốn đầu tư nước ngoài và. Thị trường chứng khoán còn chưa thành lập đến tận năm 2000. Tuy nhiên, chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi vốn đầu tư vào các nước Đông Nam Á suy giảm.

Tỷ giá các đồng tiền châu Á so với USD ($1)

Loại tiền Tháng 7/1997 Tháng 7/1998 Giảm
Thai baht 24.5 41 40.2%
Indonesian rupiah 2,380 14,150 83.2%
Philippine peso 26.3 42 37.4%
Malaysian ringgit 2.48 4.88 49.1%
South Korean won 850 1,290 34.1%

Tổng kết

Luôn cẩn thận với các dòng tiền "nóng" đầu tư vào tài sản tài chính, chứng khoán, bất động sản thay vì đầu tư sản xuất, chế biến vì chúng có thể rút ra bất kì lúc nào

Thực hiện chính sách tỷ giá linh động, dự trữ ngoại hối ổn định và duy trì cán cân thanh toán tốt sẽ giúp ổn định kinh tế vĩ mô. Tránh cú sốc từ các dòng tiền đầu tư nước ngoài

Tăng trưởng ngành tài chính, chứng khoán, bất động sản không thể bền vững và chỉ có một hướng đi lên

Tham khảo:

  • https://en.wikipedia.org/wiki/1997_Asian_financial_crisis
  • https://www.federalreservehistory.org/essays/asian-financial-crisis

Nếu bạn muốn nhận được lời nhắc khi có bài viết mới. Hãy đăng kí lại email ngay bên dưới và like Facebook page của chúng tôi. Chúng tôi rất vui được gặp lại bạn! <3


Share Tweet Send
0 Bình luận
Đang nạp...
You've successfully subscribed to Finaz.vn
Great! Next, complete checkout for full access to Finaz.vn
Welcome back! You've successfully signed in
Success! Your account is fully activated, you now have access to all content.