Đầu tư dựa trên yếu tố (factor investing)

Khi đọc các bài viết về đầu tư, đặc biệt là báo nước ngoài, thuật ngữ đầu tư dựa trên các yếu tố (factor investing) được nhắc đến rất nhiều. Vậy chúng là gì?

Đầu tư dựa trên yếu tố (factor investing)

Đầu tư dựa trên yếu tố là gì?

Khi đầu tư một tài sản nào đó (cổ phiếu, trái phiếu) chúng ta tin rằng giá trị tài sản sẽ mang lại lợi nhuận dựa trên một yếu tố nào đó. Các yếu tố đó có thể là thông tin vĩ mô: dòng tiền đầu tư, lạm phát, ngành nghề … hoặc các yếu tố nội tại của tài sản: năng lực của công ty niêm yết, cả thị trường đang tăng … Nếu việc đầu tư hoàn toàn là lựa chọn cá nhân, không dựa trên lý do nào cả, thường ta gọi là đầu cơ

Các công ty quản lý tài sản cũng làm y hệt như vậy. Tuy nhiên, các yếu tố của tài sản phải đo lường cụ thể được. Các yếu tố mà các nhà nghiên cứu và quản lý tài sản thường sử dụng trong thực tế là: yếu tố giá trị (value), vốn hoá (size), tính giao động giá (volatility), lợi tức (yield), chất lượng của tài sản (quality) và  tính xu hướng (Momentum).

  • Yếu tố giá trị thường được mô tả như giá trị nội tại của tài sản đang cao hơn giá giao dịch trên thị trường. Trong công thức, thường sử dụng chỉ số PB để mô tả yếu tố giá trị
  • Yếu tố vốn hoá thường mô tả độ lớn của tài sản so với các tài sản khác trên thị trường. Trên sàn giao dịch cổ phiếu. Các công ty thường được chia thành 3 nhóm: giá trị vốn hoá lớn, trung bình và nhỏ.
  • Yếu tố xu hướng: yếu tố này cho rằng, những cổ phiếu tăng trưởng tốt trong quá khứ sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt trong tương lai, và ngược lại
  • Yếu tố chất lượng: Các cổ phiếu được đánh giá là chất lượng có nợ thấp, lợi nhuận ổn định, tăng trưởng tài sản đều và quản trị công ty tốt. Thước đo yếu tố chất lượng là ROE, nợ trên tài sản, tăng trưởng lợi nhuận …
  • Tính biến động lợi nhuận. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các cổ phiếu có tính biến động thấp thương mang lại lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro tốt hơn cổ phiếu có tính biến động cao. Tính biến động lợi nhuận thường tính bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận hoặc bằng hệ số beta khi so sánh lợi nhuận của cổ phiếu với lợi nhuận thị trường.
  • Lợi tức, là phần giá trị tăng thêm ngoài giá. Trong cổ phiếu, là tỷ số giữa cổ tức và giá.
Lợi nhuận tích luỹ của một danh mục đầu tư dựa trên các yếu tố giá trị, xu hướng, tăng trưởng và thanh khoản. Nguồn MSCI

Đọc thêm:

Các nghiên cứu đầu tư cổ phiếu dựa trên yếu tố

Các yếu tố trong đầu tư cổ phiếu được nghiên cứu, hay đúng hơn là lượng hoá trước tiên từ học thuật.

  • Nổi tiếng nhất là mô hình định giá tài sản (CAPM), sau này trở thành lý thuyết đầu tư hiện đại từ năm 1960. Theo lý thuyết này, lợi nhuận kì vọng của cổ phiếu hay danh mục đầu tư phụ thuộc vào lợi nhuận từ thị trường (theo hệ số beta) và lợi nhuận của bản thân cổ phiếu hay danh mục đầu tư đó (hệ số alpha)
  • Lý thuyết đầu tư chênh lệch giá (Arbitrage pricing theory - ATP) giải thích lợi nhuận của danh mục là một hàm gồm nhiều yếu tố biến động đầu vào, gọi là mô hình đa nhân tố. Các mô hình sử dụng phổ biến là:
  • Mô hình 3 yếu tố: Lợi nhuận danh mục phụ thuộc vào phần bù rủi ro thị trường, vốn hoá của danh mục, yếu tố giá trị của danh mục
  • Mô hình 5 yếu tố: Gồm 3 yếu tố trên và thêm yếu tố lợi nhuận và biến động lợi nhuận
  • Mô hình 4 yếu tố Carhart (1997) gồm mô hình 3 yếu tố + yếu tố momentum

Bài viết này chỉ mang tính giới thiệu nên ta không đi sâu vào các mô hình trên.

Mục đích của nghiên cứu yếu tố

Xuất phát từ nghiên cứu lý thuyết rồi được ứng dụng rộng rãi trong thực tế bởi các nhà quản lý tài sản. Việc nghiên cứu các mô hình đa yếu tố gần như là xương sống của ngành tài chính, tiêu biểu là Quản lý danh mục đầu tư hiện đại. Việc sử dụng các mô hình thường dùng để:

  • Định lượng được các yếu tố. Thông thường, với nhà đầu tư cá nhân có nguồn lực hạn chế, việc chọn mua cổ phiếu có thể dựa trên việc tự chọn. Tuy nhiên với các công ty quản lý tài sản hàng tỷ đô, việc lựa chọn cổ phiếu, tái cân bằng cổ phiếu là tự động và đòi hỏi rất ít cảm tính của con người. Mô hình quản lý danh mục đầu tư hiện đại là phương tiện để các quỹ sử dụng để thực hiện giao dịch.
  • Giải thích kết quả thực hiện. Phân tích chất lượng lợi nhuận đầu tư của các quỹ dựa trên các yếu tố là việc phải thực hiện cuối năm (để chuẩn bị chia lương thưởng). Ví dụ, các báo nước ngoài thường viết về chỉ số alpha, đây là chỉ số độc lập trong mô hình một nhân tố, giải thích lợi nhuận dựa trên giá trị alpha và chỉ số tương quan với thị trường beta. Công việc của các quỹ là lựa chọn danh mục đầu tư có chỉ số alpha dương là như vậy
Sự biến động của các yếu tố đầu tư theo thời gian. Các quỹ dự đoán các yếu tố sẽ thay đổi ra sao vào năm tới để tái cân bằng danh mục cho hợp lý (nguồn: MSCI)

Tạm kết

Viết về Đầu tư dựa trên các yếu tố là việc làm quá sức đối với mình. Đây gần như là việc của các quỹ đầu tư hơn là các nhà đầu tư cá nhân. Bài viết chỉ mong góp phần nhỏ hiểu biết khi bạn đọc thấy ở đâu đó việc đầu tư dựa trên yếu tố (factor investing) hay tìm kiếm giá trị alpha (như trang web về đầu tư seekingalpha) có thể hiểu được đôi chút về các yếu tố này, ít nhất là không cảm thấy quá hoang mang.

Dưới đây là một bản nghiên cứu về 5 yếu tố đầu tư fama french áp dụng cho thị trường Việt Nam để bạn đọc có thể hiểu được các các quỹ tìm hiểu và nghiên cứu thị trường. Link bài nghiên cứu (tiếng Anh)

Tham khảo:

  • https://mba.tuck.dartmouth.edu/pages/faculty/ken.french/Data_Library/f-f_factors.html
  • Foundations of Factor Investing - SSNR

Share Tweet Send
0 Bình luận
Đang nạp...
You've successfully subscribed to Finaz.vn
Great! Next, complete checkout for full access to Finaz.vn
Welcome back! You've successfully signed in
Success! Your account is fully activated, you now have access to all content.